30 thg 6, 2011

Người ra đi cho tôi nhiều đau thương...

Tình khúc đoạn trường [1]
Tác giả: Tú Nhi

Ngày hôm qua đôi ta còn thấy mặt
Ngày hôm qua bên nhau còn rong chơi
Ôi ngàn lời trìu mến đó chưa vơi cho một người dù đã cách xa xôi

Em ra đi cho mây lịm phố buồn
Người ra đi cho tôi nhiều đau thương
Ðêm nghẹn ngào từng đêm bước cô đơn ru hồn về lạc vào khúc đoạn trường

Em đi rồi đường em đi quá xa
Tôi đâu ngờ tình ta sẽ phôi pha
Lòng người như cơn mây chiều thôi xa rồi
Người đã xa tôi xa thật rồi trong tôi

Tơ duyên ơi tôi xin chào vĩnh biệt
Người yêu ơi tôi xin tạ ơn em
Thôi đừng về đừng vắt máu tim tôi tôi sợ rồi và sợ lắm người ơi.


[1] Theo bản do Chế Linh ca. [không phải tựa Lời chào vĩnh biệt]

Nhớ muôn đời kỉ niệm tình yêu chúng ta...

Lỡ cuộc tình sầu [1]
Tác giả: Bằng Giang

Đừng khóc nữa em ơi đừng khóc nữa em ơi
Có bao giờ em nghĩ rằng tình yêu như trái táo thơm ngọt đắng
Và khi vỗ cánh bay rồi biết mất nhau rồi nói những lời thật buồn buồn hơn nghĩa trang hỡi người ơi

Đừng nhắc nữa em ơi đừng nhắc nữa em ơi
Nhắc làm gì thêm tủi sầu lời nào yêu dấu hãy quên từ đây
Còn ai ai trong đêm dài ánh mắt u hoài nhớ muôn đời kỉ niệm tình yêu chúng ta những ngày qua

Thôi em đi về đi về đi lưu luyến mà chi mai đây với tháng ngày dài cõi lòng tê tái
Về đi về đi em hãy về đi em đừng nói gì còn đâu nữa mà mong mà mong

Từ đây gió xa mây buồn hơn lá thu bay
Mất em rồi tôi còn gì còn chăng đi nữa những kỷ niệm xưa
Người có oán trách không người nuối tiếc không người khóc hay cười để rồi người yêu
của tôi cũng lìa xa


[1] Theo bản do Chế Linh ca.

28 thg 6, 2011

Ta là ai...

Hôm nay vào facebook của chú An Chi, thấy bài Trầm hương Vạn Giã của Nguyễn Man Nhiên và Nguyễn Khoa Châu; đọc lướt sơ thì thấy thì bắt gặp chuyện “ngậm ngải tìm trầm” và hóa thành người rừng. Chuyện này khiến tôi nhớ lại ngày xưa, khi tôi lên 10, cách nay gần 30 năm, một buổi tối má tôi kể cho các con nghe chuyện người ta đi ngậm ngải tìm trầm, khi về quên cả người thân, cứ đứng trước cửa nhà, không vào; nếu gia đình biết được thì lấy chổi “giá” lên đầu thì người ấy sẽ trở lại thành người bình thường, nếu không “nó” sẽ bỏ đi vào rừng, thành người rừng mãi mãi (tôi không nhớ chắc là mình nghe từ “con xà niên” [1] lần đó hay mãi sau này khi lớn lên, đọc sách mới biết) [2]. Tôi có gặng hỏi vì cảm thấy “bất an”, nhưng câu trả lời “thành người rừng mãi mãi” khiến tôi suy nghĩ về tình trạng cô đơn của một người trên cõi đời này. Và bỗng nhiên lúc đó tôi Ý THỨC được “cái tôi” của mình, tức tôi nhận ra sự hiện hữu của mình trên cõi đời này.



[1] Việt Nam tự điển, nhóm Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ: cũng viết “chàn niên”, loại khỉ to con, lông dài.
[2] Sau này tôi có đọc chuyện này ở vài cuốn sách: cuốn đầu (lần đầu tiên đọc) tác giả (một nhà văn rặt miền Nam, hình như Trần Kim Trắc) có dùng từ “con xà niên” (hoặc xà niêng); Quách Tấn trong sách Xứ trầm hương thì nói là biến thành cọp (do câu chuyện má tôi kể, tôi không thích phiên bản này, cảm giác rằng tác giả “đặt chuyện”). Nguyễn Đình Tư trong sách Non nước Khánh Hòa kể tương tự, chỉ khác một chút là thay vì “chổi” thì là “đòn gánh”, không nhắc đến chữ “con xà niên”. 

26 thg 6, 2011

Tâm tư chẳng biết nói cùng ai...

Cho người vào cuộc chiến [1]
Tác giả: Phan Trần

Anh bỏ trường xưa bỏ áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường 
Anh đi vì đất nước khổ đau anh đi anh quên thân mình
Em vì anh tóc bới chẳng lược cài thôi điểm trang má phấn chẳng cần dồi xa phồn hoa với những chiều dập dìu cho anh vững lòng anh đi

Đêm rồi lại đêm một bóng đơn côi em nhớ người phương trời
Tâm tư chẳng biết nói cùng ai đơn sơ  em ghi đôi dòng
Mong người đi giữa súng đạn chập chùng xin hiểu cho giữa cát bụi thị thành bao giờ em cũng vẫn bền một lòng thương anh suốt đời anh ơi

Mai kia anh trở về anh trở về dẫu rằng dẫu rằng không còn vẹn như xưa
Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ dù anh trở về bằng chiếc xe lăn hoặc anh trở về bằng chiến công đầy tình em vẫn chẳng đổi thay

Anh giờ ở đâu đồi núi cao nguyên hay cuối miền sông Hậu
Đêm nay ở đó gió lạnh không sương khuya có giăng giăng đầy
Phương này em với những lời nguyện cầu cho người đi sẽ có ngày trở về cho tình ta thắm thiết tựa ngày đầu xin cho chúng mình còn nhau.


[1] Theo bản do Thanh Thúy ca.

Thôi thì thôi chỉ là phù vân...


Đưa em tìm động hoa vàng [1]
Tác giả: Phạm Duy [2]

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau
Thôi thì thôi [3] đừng ngại mưa mau
Đưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi
Sông này đây chảy một giòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

Nhớ xưa em chửa [4] theo chồng
Mùa xuân may áo áo hồng đào rơi
Mùa thu em mặc áo da trời
Sang đông lại khoác lên người áo hoa

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau
Thôi thì em chẳng còn yêu tôi
Leo lên cành bưởi khóc người rưng rưng
Thôi thì thôi mộ người tà dương
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhớ xưa em rũ tóc thề
Nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ [5]

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi

Chim ơi chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà
Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu.


[1] Theo bản do Vũ Khanh ca.
[2] Phổ bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư.  
[3] Sĩ Phú: em
[4] chưa
[5] Thái Thanh: nắng hồng

22 thg 6, 2011

Nhớ nhớ khi xưa...

 Sơn Tinh Thủy Tinh [1]



Nhớ nhớ khi xưa non nước an lạc thái bình thái thái bình
Có cô Mỵ Nương tuổi xuân vừa lên đôi tám xinh tươi như hoa đẹp như tiên nga non Bồng giáng sinh non Bồng giáng sinh

Cho đến hôm kia bỗng thấy ra mặt hai chàng hai hai chàng
Tâu xin vua cha cầu hôn cùng cô công chúa
Hai ngươi tên chi hai ngươi tên chi tên gì nói mau tên gì nói mau
Ta tên Thủy Tinh thường hay làm mưa làm gió
Ta tên Sơn Tinh danh ta xưa nay vang lừng đó đây vang lừng đó đây

Khó nghĩ cho ta không biết phân xử thế nào thế thế nào
Mai ai nhanh chân thì được cầu hôn công chúa
Mai ta nhanh chân mai ta nhanh chân thỏa lòng ước mơ thỏa lòng ước mơ

Sáng sớm hôm sau đây đó hoa nở tưng bừng tưng tưng bừng
Sơn Tinh nhanh chân cầm tay nàng tiên mơ ước
Đem lên non cao đem lên non cao thỏa lòng ước mơ thỏa lòng ước mơ
Thủy Tinh đến sau đâu đó mọi việc an bài an an bài
Sơn Tinh mi ơi ngàn năm thù đây ta nhớ
Mỵ Nương em ơi thôi đành mất nương thôi đành mất nương [2]


[1] Nhớ khi còn ấu thơ (cuối những năm 1970), sống ở quê nhà Cần Đước, có vài lần vào những đêm trăng sáng, chúng tôi chơi trò ca hát, có hát bài này. Tuy điệu hát vẫn còn nhớ, nhưng lời lẽ thì không chắc lắm. Bài này chép lại trên mạng, chỉnh sửa theo ý mình.  
[2] Nếu quan niệm rằng mục đích học lịch sử để yêu đất nước, ông cha thì bài hát có giá trị gấp bội nhiều bài học được dạy xưa nay, vốn dựa vào truyền thuyết cùng cách hiểu chủ quan của người soạn sách dạy sử. 

18 thg 6, 2011

Hỡi người người ơi có nhớ chăng ngày xưa ấy...



Ngày xưa còn đi học [1]
Tác giả: Anh Huy

Ngày xưa còn bé bỏng cắp sách đến trường học tung tăng vui đùa bên gốc đa
Ngày xưa còn thơ dại cắp sách đến trường học vô tư khi nhìn chiếc lá rơi
Bao nhiêu xuân qua trên đời mang theo mây trôi xa vời hỡi người người ơi có nhớ chăng ngày xưa ấy tôi còn [2] nuối tiếc trong tim đời đời.

Ngày xưa nhiều mơ mộng e ấp đến trường học bâng khuâng trông chờ chim hót ca
Ngày xưa lòng rất đẹp phơi phới đến trường học hân hoan tươi cười dưới nắng mai
Bao nhiêu thu qua trên đời mang theo mây trôi xa vời hỡi người người ơi có nhớ chăng ngày xưa ấy tôi còn [3] nuối tiếc trong tim đời đời.

Ngày nay còn những gì khi bước đến trường học rưng rưng lệ trào theo khóe mi
Ngày nay còn kỉ niệm khi nhớ [4] đến trường học lâng lâng mơ về bóng dáng xưa
Bao nhiêu đông qua trên đời mang theo mây trôi xa vời hỡi người người ơi có nhớ chăng ngày xưa ấy vẫn còn chất chứa trong tim đời đời.



[1] Theo bản do Như Mai ca.
[2] Thanh Lan: giờ
[3] Thanh Lan: giờ
[4] Thanh Lan: ghé

Muôn sắc hoa hồng mỹ miều cũng thua màu phượng buồn thật nhiều...

Cánh thư mùa hạ [1]
Tác giả: Phượng Vũ

Hỏi rằng mùa hạ năm nay phương ấy [2] có còn nhiều mây bay hoa nắng lung linh phượng rơi ngủ mơ trên vai em ngọc ngà
Kể từ ngày chia tay đôi nơi bạn bè còn mấy đứa nhắc tới em gái yêu ơi [3] có còn nhặt hoa hay đã giã từ cuộc chơi

Nơi xa xôi đóng quân trên vùng sỏi đá suốt năm bốn mùa [4] là lửa hạ mong một ngày trời nở đầy hoa. 
Về trường xưa ngắm lại màu phượng thân yêu muôn sắc hoa dù [5] mỹ miều cũng thua màu phượng buồn thật nhiều

Mấy mùa lửa hạ trôi qua thân lính xa nhà [6] còn bôn ba nhưng nhớ thiết tha phượng rơi ngủ mơ trên vai em ngọc ngà
Vài lời gởi cho cô em thôi kỷ niệm ngày trước có nhớ tới xin gởi cho tôi cánh phượng màu môi cho tôi sống [7] lại ngày vui.



[1] Theo bản do Duy Khánh ca link1.
[2] Duy Khánh ca bản mới: quê cũ
[3] Bản mới: năm xưa
[4] Bản mới: nơi xa xôi hắt hiu nghe lòng lạnh giá dẫu cho giữa mùa
[5] Bản mới: hồng [chắc bản gốc viết "muôn sắc hoa, dù mỹ miều.."]
[6] Bản mới: kiếp sống xa nhà
[7] Bản mới: nhớ

Và người thương về với người thương...

Đường tàu mùa xuân [1]
Tác giả: Phạm Minh Tuấn

Năm xưa anh phá núi em mở đường trên đỉnh Trường Sơn đồi núi trập trùng [2] 
Năm nay cũng những bàn tay lấp hố bom xây cuộc sống
Tự hào nào bao cô gái tự hào nào những chàng trai tuổi thanh niên như Phù Đổng cháu con của Bác Hồ đi mở đường tàu Thống Nhất quê hương

Bạn ơi đã bao ngày bao đêm gian nan tay cuốc nhịp nhàng để tàu ta xuôi Nam ngược Bắc
và người thương về với người thương
Bạn ơi tất cả vì tương lai mai sau quê mẹ đẹp giàu đường tàu ta thắm bao tình nghĩa tàu Việt Nam ôm chặt đất anh hùng
Việt Nam ôi đường tàu Việt Nam đường thống nhất mang sức trẻ mùa xuân.




[1] Theo bản do Kiều Hưng ca.
[2] Ngày nhỏ có một ngày mơ màng trong hoặc sau giấc ngủ trưa tôi nghe một khúc bài hát này, trong óc lại tự nhiên hiện lên hình ảnh ngọn núi có khói sương gì đó, cảm giác thần tiên,  ấn tượng cho đến giờ.  

Cũng ngày phượng nở hai đứa mình ra đi...


Người đi xây hồ Kẻ Gỗ [1]
Tác giả: Nguyễn Văn Tý

Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn mà đời không ngại đào mấy con kênh đắp hồ xây đập ta nuôi dòng nước ngọt để đàn mương nhỏ tắm mát quanh năm ruộng đồng ta thỏa mơ ước bao ngàn năm.

Kẻ Gỗ là đây bao năm đợi tháng chờ này vùng đá bạc đồi núi lô nhô những dòng suối nhỏ theo sông về với biển bỏ đồi hoang lại trong nắng trong mưa để người nên khổ như đất kia cằn khô.

Ờ hơ...Tay anh phá đá tay em đào sỏi
Ngồi trong xe ủi anh nhớ những ngày hè
Chân lội qua khe em nhớ mùa đông giá
Ta nghe trong đó bao nhiêu là chuyện lạ
Ngày ta đi học em nói thích nghề gì
Nay da em nâu tươi màu suy nghĩ thấy mùa phượng vĩ ta ngỡ gặp mùa thi cũng ngày phượng nở hai đứa mình ra đi.

Ơ hơ...Ta đi những bước thênh thang đồng rộng
Làng ta di động thêm có đất mình cày
Cho điện giăng dây đưa máy về thôn xóm
Ta đi trong nắng trong mưa đời bận rộn
Bài thơ ta đọc em có thấy điều gì
Như da em nâu tươi màu suy nghĩ giống mùa phượng vĩ xao xuyến mộng ngày thi giống ngày phượng nở hai đứa mình cùng đi.

Nghệ Tĩnh mình ơi sông Lam rọi núi Hồng bạn về theo bạn đào núi ngăn sông đất trời như vẫn vang vang lời trống giục mặt hồ lay động nên sóng mênh mông từng đàn cá lội cây lúa thêm nặng bông.

Ờ hơ...Tay anh phá đá tay em đào sỏi
Ngồi trong xe ủi anh nhớ những ngày hè
Chân lội qua khe em nhớ mùa đông giá.
Ta nghe trong đó bao nhiêu là chuyện lạ
Ngày ta đi học em nói thích nghề gì (nghề dược nớ)
Nay da em nâu tươi màu suy nghĩ thấy mùa phượng vĩ ta ngỡ gặp mùa thi cũng ngày phượng nở hai đứa mình ra đi.

Ơ hớ hơ hờ… cuộc đời vẫy gọi ta nhớ bao lần đi lần đi.


[1] Theo bản do Kiều Hưng và Thu Hiền ca.

13 thg 6, 2011

Không riêng một mình chim ta cũng từng nếm phút đau thương...

Tìm hiểu về điển tích chim Tinh Vệ

Nguyên văn [1]:
...有鸟焉. 其状如乌, 文首, 白喙, 赤足, 名曰精卫, 其鸣自佼. 是炎帝之少女, 名曰女娃. 女娃游于东海, 溺而不返, 故为精卫. 常衔西山之木石, 以湮于东海…  

Phiên âm Hán Việt:
… hữu điểu yên. Kỳ trạng như ô, văn thủ, bạch uế [2], xích túc, danh viết Tinh Vệ, kỳ minh tự hiệu [3]. Thị Viêm Đế [4] chi thiếu [5] nữ, danh viết Nữ Ai [6]. Nữ Ai du ư Đông Hải [7], nịch nhi bất phản, cố vi Tinh Vệ. Thường hàm tây sơn chi mộc thạch, dĩ yên [8] ư Đông Hải…

Tạm dịch:
… Trên núi có một loài chim, thân hình tựa con quạ, trên đầu có đường vằn [9], mỏ màu trắng, chân màu đỏ [10], gọi là Tinh Vệ. Đó là do tiếng kêu mà đặt thành tên [11]. Tương truyền chim Tinh Vệ vốn là con gái Viêm Đế, tên là Nữ Ai. Có một ngày Nữ Ai đi chơi ở Đông Hải [12], bị chết đuối không trở về nhà, từ đó mới hóa thành chim [13]. Chim thường ngậm cành cây hoặc hòn sỏi từ tây sơn [14] bay ra lấp Đông Hải…”

Một số tài liệu tham khảo khác:
SHK
-    Chú:
o   Viêm Đế: là đế vương thời thượng cổ, gọi là Thần Nông Thị.
o   Thiếu 少: thông “tiểu”小
o   Yên 湮: lấp

SHKMTTT
-      Chú:
o   Viêm Đế: là Thần Nông
o   Ai 娃: ác giai phản; “giai” 阶là viết sai.
o   Yên堙: lấp

TDK
Nguyên văn:
昔炎帝女溺死东海中化为精卫其名自呼每衔西山木石填东海偶海燕而生子生雌状如精卫生雄如海燕今东海精卫誓水处曾溺于此川誓不饮其水一名鸟誓一名冤禽又名志鸟俗呼帝女雀.

Phiên âm Hán Việt:
Tích Viêm Đế nữ nịch ư Đông Hải trung hóa vi Tinh Vệ kỳ danh tự hô mỗi hàm tây sơn mộc thạch điền Đông Hải ngẫu hải yến nhi sinh tử sinh thư trạng như Tinh Vệ sinh hùng như hải yến kim Đông Hải Tinh Vệ thệ thủy xử [15] tằng nịch ư thử xuyên thệ bất ẩm kỳ thủy nhất danh điểu thệ nhất danh oan cầm hựu danh chí điểu tục hô Đế nữ tước.

Tạm dịch:
Xưa con gái Viêm Đế chết đuối ở Đông Hải, hóa thành chim Tinh Vệ. Tên nó là từ tiếng kêu; mỗi ngày ngậm cành cây, hòn sỏi trên núi Tây bay ra lấp Đông Hải. Chim kết đôi với chim hải yến mà sinh chim con, con mái thì hình giống Tinh Vệ, con trống thì giống hải yến. Nay chim Tinh Vệ ở Đông Hải thề rằng sống ở vùng biển, từng chết đuối ở vùng nước này, quyết không bao giờ uống nước vùng này nữa. Còn gọi là “điểu thệ”, hoặc “oan cầm”, hoặc “chí điểu”, tục gọi “Đế nữ tước”.

HNĐTĐ12
-    Tinh Vệ: …Thuật dị ký của Nhâm Phưởng 任昉 [16], người nước Lương đời Nam Triều kể: Xưa con gái Viêm Đế… còn gọi là điểu thệ 鸟誓, hoặc là oan cầm冤禽, hoặc chí điểu 志鸟, tục gọi “Đế nữ tước” 帝女雀 [17].
-    Tinh vệ điền hải: về sau tỉ dụ việc không sợ gian nan, phấn đấu không thôi

TVĐTĐ
-     Tinh Vệ: loài chim nhỏ sống ven biển, đầu có sọc vằn, mỏ trắng, chân đỏ, tương truyền là do con gái Viêm Đế chết đuối hóa thành. Cặp đôi với hải yến sinh chim con, con mái là “tinh vệ”, còn gọi là “oan cầm”, mà con trống là hải yến.
-    Thuật dị ký: … còn gọi là điểu thị 鸟市 [18], hoặc oan cầm冤禽, hoặc chí điểu 志鸟, tục gọi “Đế nữ tước” 帝女雀.
-      Tinh Vệ hàm thạch精卫衔石: cũng như “Tinh Vệ điền hải”

HNTNĐTĐ
-       Tinh Vệ điền hải: Tỉ dụ lời thề lập chí không thay đổi, nỗ lực không thôi; có khi tỉ dụ việc uổng công vô ích.
-        Các hình thức khác: hàm thạch điền hải, tinh cầm điền hải, Tinh Vệ hàm thạch

HNTNTĐ
-      Tinh Vệ điền hải: Tỉ dụ ý chí kiên cường, không sợ gian nan, hoặc mang thâm cừu đại hận, lập chí báo thù rửa hận

HNTNTH
-    Tinh Vệ điền hải: Tỉ dụ không sợ gian nan bền bỉ phấn đấu; có khi tỉ dụ việc uổng công vô ích, cũng viết “tinh cầm điền hải”.
-      Tinh Vệ hàm thạch : tỉ dụ việc uổng công vô ích

TNĐTĐ
-      Tinh Vệ điền hải: Vốn chỉ việc lập chí báo cừu; tỉ dụ ý chí kiên cường không sợ gian nan, không đạt mục đích thề không ngừng nghỉ.

TQĐCĐTĐ
-      Thuật dị ký của Nhâm Phưởng, người nước Lương đời Nam Triều có kể thêm “… kết đôi với chim hải yến mà sinh chim con, con mái thì hình giống tinh vệ, con trống thì giống hải yến, tục gọi “Đế nữ tước” 帝女雀 . 
-      Về sau, dùng thành ngữ “Tinh Vệ điền hải” để tỉ dụ việc có oan cừu phải báo, cũng tỉ dụ việc không sợ gian nan, phấn đấu không ngừng nghỉ.
-      Các dạng thành ngữ và cụm từ khác có liên quan:
o   Đế nữ điền hải 帝女填海: tỉ dụ chỉ sức yếu nhưng chí lớn, phấn đấu không ngừng nghỉ.
o   Đế nữ hàm thạch 帝女衔石: mượn tỉ dụ việc bay cao của chim biển.
o  Tinh Vệ 精卫: tên chim trong truyền thuyết thần thoại cổ đại; về sau đa phần mượn chỉ người có cừu hận muốn báo hoặc không sợ gian nan bền bỉ phấn đấu.
o   tinh cầm 精禽: như “tinh vệ”.
o   tinh cầm điền hải精禽填海:  như “tinh vệ điền hải”.
o   Tinh Vệ khổ 精卫苦: tỉ dụ người có chí khí lập chí cam lòng chịu khổ.
o   Tinh Vệ tắc hải精卫塞海: như “tinh vệ điền hải”.
o  Tinh Vệ hàm mộc thạch精卫衔木石: như “tinh vệ điền hải”.
o   Tinh Vệ hàm thạch精卫衔石: như “tinh vệ điền hải”.
o   Tinh Vệ hàm tân 精卫衔薪: như “tinh vệ điền hải”.
o   Tinh Vệ tâm 精卫心: tỉ dụ lòng thành hiến thân vì sự nghiệp chính nghĩa.
o   Tinh Vệ ân cần 精卫殷勤: tỉ dụ người có chí khí phấn đấu không ngừng nghỉ.
o cầm hải 禽海: tỉ dụ biển oan.
o   cầm điền hải 禽填海: như “tinh vệ điền hải”.
o   cầm điền thạch 禽填石: tỉ dụ việc rửa oan, rửa hận.
o   điền hải填海: chỉ việc Tinh Vệ lấp biển trong thần thoại cổ đại, cũng tỉ dụ oan hận cực độ hoặc hiến thân vì sự nghiệp vĩ đại, ý chí kiên định.
o   điển Bột Hải 填渤 (tian 3[19] bo 2 xie 3 [20]): như “điền hải”.
o Tây sơn hàm mộc thạch西山衔木石: tỉ dụ việc chuyên cần không ngừng nghỉ, hiến thân cho đại nghiệp.
o   hàm thạch thường oán 衔石偿怨: ý nói vì oan sâu sức yếu mà phấn đấu không ngừng nghỉ.
o   hàm mộc điểu 衔木鸟: như “hàm thạch điểu”.
o   hàm mộc thạch衔木石: như “hàm thạch thường oán”.
o   hàm thạch điền hải 衔石填海: tỉ dụ việc vì mục tiêu đã định, không ngại sức yếu mà phấn đấu không ngừng nghỉ.
o   hàm sa điền hải 衔沙填海: như “hàm thạch điền hải”.
o   hàm thạch 衔石: như “hàm thạch điền hải”.
o   hàm thạch điểu 衔石鸟: chỉ chim Tinh Vệ, phiếm chỉ chim biển; cũng tỉ dụ sự phấn đấu không ngừng nghỉ của người có chí khí.
o   đầu thạch điền hải 投石填海: như “hàm thạch điền hải”.
o   oan cầm 冤禽: chỉ chim Tinh Vệ.
o   oan điểu冤鸟: như “oan cầm”.



TQTNTH
-      Tinh Vệ điền hải: chim Tinh Vệ không ngừng ngậm cành cây, hòn sỏi trên núi Tây ra lấp Đông Hải. Tỉ dụ trong lòng mang mối oan hận hoặc thù sâu hận lớn, lập chí báo thù.
-      Tỉ dụ ý chí kiên định, không sợ gian nan, bền bỉ phấn đấu, không đạt được mục đích thề không ngừng nghỉ.

Bảng đối chiếu tên tài liệu tham khảo:
CĐHNQTL
Cổ đại Hán ngữ, nhóm tác giả, Thương Vụ ấn thư quán, 2006
ĐDA
Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh, Trường Thi, 1957
HNĐTĐ12
Hán ngữ đại từ điển (bản 12 quyển), La Trúc Phong chủ biên, Hán Ngữ Đại Từ Điển xuất bản xã, 2006
HNĐTĐ8
Hán ngữ đại tự điển (bản 8 quyển), nhóm tác giả, Hồ Bắc từ thư xuất bản xã & Tứ Xuyên từ thư xuất bản xã, 2006
HNTNĐTĐ
Hán ngữ thành ngữ đại từ điển, Hồ Bắc đại học cổ tịch nghiên cứu sở biên, Trung Hoa thư cục, 2007
HNTNTĐ
Hán ngữ thành ngữ từ điển, nhóm tác giả, Thương Vụ ấn thư quán2004
HNTNTH
Hán ngữ thành ngữ từ hải, Chu Tổ  Duyên chủ biên, Vũ Hán xuất bản xã, 2003
NTTQCCNS
Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, Huệ Thiên, NXB Trẻ, 2004

SHK
Sơn hải kinh, Lý Nhuận Anh & Trần Hoán Lương chú dịch, Nhạc Lộc thư xã, 2007
SHKMTTT
Sơn hải kinh – Mộc Thiên Tử truyện, Trương Vân điểm giáo (点校) , Nhạc Lộc thư xã, 2006
TC
Hán Việt tự điển, Thiều Chửu, NXB Văn hóa thông tin, 2005
TDK
THM
Từ hải  (thải đồ bản), Từ Hải biên tập ủy viên hội, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1999
TNĐTĐ
Thành ngữ đại từ điển, nhóm tác giả, Thương Vụ ấn thư quán, 2005
TNM
Từ nguyên (tu đính bản), nhóm tác giả, Thương Vụ ấn thư quán, 2006
TQCKĐDĐTĐ
Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển, nhóm tác giả, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2005
TQĐCĐTĐ
Trung Quốc điển cố đại từ điển, nhóm tác giả, Hán Ngữ Đại Từ Điển xuất bản xã, 2005
TQLSĐTĐ
Trung Quốc lịch sử đại từ điển, nhóm tác giả, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2000
TQTNTH
Trung Quốc thành ngữ từ hải, nhóm tác giả, Tân Hoa xuất bản xã, 2005
VL
Vương Lực cổ Hán ngữ tự điển, Vương Lực (chủ biên), Trung Hoa thư cục, 2007
TVĐTĐ
Trung văn đại từ điển (10 quyển), nhóm tác giả, Trung Quốc văn hóa đại học, 1993







[1] Điển tích này gốc từ thiên Bắc sơn kinh trong sách Sơn hải kinh 山海经 - 北山经. Đây là một bộ sách địa lý cổ xưa nhất của Trung Quốc, không biết tác giả, có từ thời Chiến Quốc.
[2] Chữ này cách đọc Hán Việt bất nhất: TC đọc “uế”; ĐDA đọc “dế”; VL: hứa uế thiết, khứ, phế vận, hiểu, nguyệt bộ; tạm chọn âm “uế”.
[3] VL: hồ giáo thiết, khứ, hiệu vận, hạp, tiêu bộ; nghĩa là “gọi”.
[4] Có thuyết nói là Thần Nông Thị, có thuyết nói là thủ lĩnh bộ tộc họ Khương thời thượng cổ trong truyền thuyết.
[5] SHK: thông 小 “tiểu”
[6] TC, ĐDA đều đọc “oa”; VL: ư giai thiết, bình, giai vận, ảnh, chi bộ; SHKMTTT: ác giai phản, viết sai là “”. Xin chọn âm “ai”, hợp lý hơn và cũng để tránh lầm với bà Nữ Oa 女娲.
[7] Đông Hải vốn có nhiều nghĩa; ở đây đó là tên một vùng biển, theo cách hiểu thời đó:
TQLSĐTĐ
1.    Danh xưng Đông Hải thời cổ, tùy thời điểm mà chỉ khác nhau. Trong sách vở xưa thời Tiên TẦN, thì là tương đương với Hoàng Hải ngày nay. Từ thời TẦN, Hán ban đầu lấy cả Hoàng Hải lẫn Đông Hải ngày nay làm Đông Hải. Từ thời Minh về sau, phần phía bắc gọi là Hoàng Hải, phần phía nam gọi là Đông Hải, khu vực tương đương Đông Hải ngày nay.
TQCKĐDĐTĐ
1.    Danh xưng Đông Hải thời cổ, tùy thời điểm mà chỉ khác nhau. Trong sách vở xưa thời Tiên TẦN, thì là tương đương với Hoàng Hải ngày nay.
2.    Một trong ba vùng biển lớn ven bờ của Trung Quốc, vì nằm ở phía đông đại lục nên có tên. Đông Hải cổ đại bao gồm phạm vi Hoàng Hải, Đông Hải ngày nay.
HNĐTĐ
1.    Tên biển. Tùy thời điểm mà chỉ khác nhau. Đại để là thời Tiên TẦN, thì đa phần chỉ Hoàng Hải ngày nay; từ TẦN, Hán về sau chỉ cả Hoàng Hải lẫn Đông Hải ngày nay; từ thời Minh về sau, vốn chỉ khu vực tương đương Đông Hải ngày nay.
THM
1.    Danh xưng Đông Hải thời cổ, tùy thời điểm mà chỉ khác nhau. Trong sách vở xưa thời Tiên TẦN, thì là tương đương với Hoàng Hải ngày nay.
TNM
Tên biển
1.    Tên Đông Hải thời xưa, chỉ vùng biển khác nhau: tương đương Hoàng Hải ngày nay hoặc một phần của Bột Hải ngày nay hoặc một phần của Đông Hải ngày nay.   

[8] TC: âm “yên” nghĩa là “lấp”; VL: ô tiền thiết, âm yên, bình, tiên vận, ảnh, văn bộ; nghĩa là “lấp”. Hoặc là 堙, cùng âm cùng nghĩa; chúng là đồng nguyên tự [VL] 
[9] VL: “văn”: đường vằn. Xem thêm bài Chữ “vằn” liền với chữ “văn” một vần in trong NTTQCCNS;   
[10] Chim chân đỏ chứ không phải … “gà móng đỏ”!
[11] CĐHNQTL: tiếng kêu của nó giống như tự mình gọi mình vậy.
[12] Nghĩa đen là biển phía đông của Trung Quốc; có người dựa theo bản dịch “biển Đông” rồi luận là ở nước ta. Riết rồi cái gì cũng “của ta”! 
[13]“… Ơi người yêu ơi chim ơi, sao giận hờn chi cuộc đời…[Người yêu và con chim sâu nhỏ, Phạm Thế Mỹ]
[14] Có quá nhiều tên núi như vậy, thật khó xác định; có lẽ ở đây chỉ có nghĩa là nói một ngọn núi ở phía Tây, gần biển mà thôi?
[15] HNĐTĐ: sống trong nước hoặc gần nước
[16] Họ phải đọc là "Nhâm"
[17] Chép lại TDK.
[18] Có lẽ sai! TDK: 鸟誓 
[19] Nguyên văn viết “tian 3”, vậy phải đọc là “điển” [HNĐTĐ8: đồ điển thiết, thượng tiên định, chân bộ; nghĩa là “khổ”];  nhưng có lẽ là “tian 2” (điền) thì đúng hơn?
[20] Về nghĩa thì cũng như 渤海, 渤解 [HNĐTĐ12]