19 thg 8, 2011


Sự tích ngày rằm tháng bảy và xuất xứ của hai tiếng Vu lan

Rằm tháng Bảy âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu lan nữa. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng Vu lan ?
Lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ, mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm, xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.
Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dầu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng Bảy thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy, quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu lan bồn pháp; lễ cúng đó gọi là Vu lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu lan bồn kinh.
Ngày rằm tháng Bảy, do đó được gọi là ngày lễ Vu lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không. Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau. Cứ theo Phật thuyết cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà la ni kinh mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: "Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường tam bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên". A Nan đem chuyện bạch với đức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà la ni đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa. Nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là "thả quỷ miệng lửa", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành "tha tội cho tất cả những người chết". Vì vậy, ngày nay mới có câu:
Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân.

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên; một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời; một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu; một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái Văn Kiểm cho rằng lễ Vu lan và lễ (xá tội) vong nhân (Fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (Fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh - HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr.795, mục Vu lan bồn). Nhưng đây không phải là "những người đã chết" nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời của thí chủ mà thôi.

Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu lan. Vu lan là dạng tắt của Vu lan bồn. Nhưng Vu lan bồn là gì? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi: "Bồn là [1] cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng Bảy, để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ, gọi là địa ngục, ở đây có một khổ hình là bị treo ngược” (Sđd, tr.795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng Vu lanVu lan bồn. Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.
Sau đây là điểm sai thứ hai. Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là "cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng Bảy" thì lại sai đi theo một kiểu khác nữa. Chậu là "đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v." (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau:

Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng
(Diễn ca kinh Vu lan bồn)

Thau, bồn (= chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt... mà thôi. Còn thức ăn thì phải "tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát" đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu!
Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu lan bồn như sau : "Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật" (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).
Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu lan thành "cứu nạn treo ngược", vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu lan bồn là "cứu đảo huyền ". Thật ra, khi Từ nguyên chẳng hạn, giảng Vu lan bồn thành "cứu đảo huyền" là nó đã mượn hai tiếng đảo huyền trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn "(Dân chi duyệt chi) do giải đảo huyền dã" nghĩa là "như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy". Chính Từ nguyên cũng đã giảng đảo huyền là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy cứu đảo huyền không phải là "cứu nạn treo ngược" mà lại là "giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng". Hai tiếng đảo huyền ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ đảo huyền chi tế là tình cảnh khốn khó (chứ không phải là "cảnh bị treo ngược"!)
Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ các vị nói rằng danh từ Sanskrit "ullabana" có nghĩa là "cứu nạn treo ngược". Trước nhất, cần nói rằng từ Sanskrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanskrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây: ullambana hoặc ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất. Ullambana gồm có ba hình vị: ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên; LAMB là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi; từ Sanskrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là "cứu nạn treo ngược" được.

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng Vu lan. Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này? Trước nhất, xin nhắc rằng Vu lan là dạng nói tắt của Vu lan bồn. Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanskrit ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ô lam bà na. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ hải khẳng định (X. chữ 盂mục Vu lan bồn). Về sau, Ô lam bà na được thay thế bằng dạng phiên âm mới là Vu lan bồn, trong đó vu thay thế cho ô, lan cho lambồn cho bà+n(a). Vì Vu lan bồn chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (vu, lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành "cái chậu đựng thức ăn" như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.
Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanskrit này có ba hình vị: tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ LAMBH và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị. Không giống như trong ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên, trong ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : CHAD (che, bọc, phủ) đv (= đối với), uc-CHAD (cởi quần áo); KHAN (chôn) đv ut-KHAN (moi lên); GAM (đi) đv ud-GAM (đi ra); NAH (trói, buộc) đv un-NAH (cởi trói); v.v.. (Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng). Căn tố động từ LAMBH là hình thái luân phiên với LABH có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt... Vậy ul-LAMBH có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là Vu lan bồn. Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu lan. Vậy Vu lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanskrit ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng "treo ngược" cả.
Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của cá nhân. Nó đúng hay sai thì còn phải chờ ở sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.

NTTQCCNS, tr.205.


[1] Bản in này thiếu chữ “là”.

16 thg 8, 2011

Nhờ lòng ai hiếu thảo cứu độ được mẹ hiền...


Nhớ mẹ [1]
Tác giả: khuyết danh

Năm xưa em còn bé rằm tháng bảy Vu Lan tung tăng như chim sẻ theo mẹ đến chùa làng
Mẹ dạy con phải nhớ gương Đức Mục Kiền Liên nhờ lòng ai hiếu thảo cứu độ được mẹ hiền

Thời gian trôi nhanh quá thấm thoát như thoi đưa
Năm nay em đã lớn mẹ hiền đã mất rồi
Vu Lan rằm tháng bảy nhớ mẹ quá đi thôi
Em về thăm chùa cũ lòng chua xót ngậm ngùi
Chùa xưa vẫn còn đó mà bóng mẹ về đâu
Âm thầm em lặng lẽ bước đi nặng u sầu

Em gục đầu lạy Phật xin mẹ được vãng sinh xin mẹ về bến giác cho nhẹ nhàng anh linh.


[1] Theo bản do Duy Khánh ca.

6 thg 8, 2011

Giờ thì một người thầy yêu quý của tôi đã không còn nữa!

Tối hôm qua, vào khoảng 9:45 tối, bạn tôi (Huỳnh Trọng Quới) báo cho tôi biết là thầy Lê Kim Anh đã mất. Tôi lập tức lên mạng tìm thử thông tin, được biết rằng hôm nay gia đình sẽ đưa thầy về Đà Nẵng [1]; sợ rằng không kịp, tôi và Quới lập tức đến viếng thầy.
Sáng hôm nay, khoảng ngoài 9 giờ, toàn thể giáo viên và học sinh trường Mạc Đĩnh Chi đã xếp hàng trước cổng trường để chào vĩnh biệt thầy [2]. Trong phút mặc niệm, trời dường như muốn mưa…
Sau đó, xe sẽ đưa thầy về ngang nhà nơi đường Đỗ Quang Đẩu, trước khi lên đường về quê nhà.
Theo người thân thì thầy mất vì đột quỵ. Sau khi giảng dạy, thầy bị mệt, phải nhờ con chở về nghỉ. Ngày hôm sau gia đình phát hiện thì đã hôn mê. Người nhà đưa thầy vào trung tâm cấp cứu Sài Gòn, rồi bệnh viện 115, nhưng đã trễ.
Thầy được đưa vào chùa Hương Quang, đường Phạm Hùng.
Thầy sinh năm 1954, có một đứa con gái, năm nay khoảng 18 tuổi.

Vài tháng trước, các bạn tôi tình cờ gặp được thầy. Thầy nói: “Còn gặp nhau khỏe mạnh là mừng rồi”. Ngờ đâu…
Sau nhiều năm không gặp thầy, tự nhiên chúng tôi dự định sắp tới đi thăm thầy. Đã xin được địa chỉ. Ngờ đâu…

Sau khi tốt nghiệp, chúng tôi thường trở lại trường để chơi bóng chuyền, thầy cũng thường tham gia. Chúng tôi có nhiều kỉ niệm với thầy.

Trần Đức Ngọc Sơn thì nhắc chuyện vui rằng mỗi lần có xe cứu thương đi ngang trường thì thầy hay nói giỡn là “đến kiếm ông Dõng đó” (số là thầy Trần Nguyên Dõng lúc đó sức khỏe không được tốt). Ngờ đâu chính thầy mới là người…
Quới từng kể một vài kỉ niệm, như là thầy không lấy tiền học thêm, nói rằng: “Thằng này (Quới) mai mốt được mẹ vợ thương”.
Còn Võ Văn Hải thì kể thầy nói với mình là: “Thằng này hiểm, chó không sủa chó cắn”.
Trần Thanh Công nhắc thầy hay hát bài “Cuộc đời vẫn đẹp sao”. Mà nay…
Cũng Công, và Ngô Duy Tài, hay nhắc phong cách ấn tượng của thầy khi thầy nói “Không ồn. Từ từ ồn…”
Thầy hay nói câu “trường đồ tri mã lực”, mà Trần Văn Lương là người nhớ nhất.
Thầy hay nhắc cách giải bài toán "Hàn Tín điểm binh" mà chắc ai cũng nhớ.

Riêng tôi có lẽ còn nhiều kỉ niệm hơn, vì hợp với tình tình và phong cách của thầy.
Còn nhớ ngày đầu tiên thầy đến lớp, từ đằng xa đã thấy thầy, đầu thì để tóc húi cua, vừa đi vừa vung vẩy cái thước cây “bửu bối” của mình.
Còn nhớ thầy kể chuyện mình giải bài toán do thầy mình là Cù An Hưng đưa ra, và quan niệm về tiếng “đẹp trai” (giải được bài toán khó mới là “đẹp trai”).
Còn nhớ thầy vẽ vòng tròn bằng tay không, không dùng com-pa (thầy giỡn “hai chỉ đó”, nghĩa là kĩ năng đó giúp thầy kiếm thêm 2 chỉ vàng một tháng)
Còn nhớ trước khi về thăm quê, thầy hay nói giỡn “chừng nào các em thấy trời u ám, mưa lâm râm là biết (xe lật)…”.
Còn nhớ thầy hay ca thầm, khi thì “tôi xin đa tạ…”, khi thì “xa phương trời nào xin em hiểu…”

Đối với tôi, mỗi khi nghĩ tới ngôi trường Mạc Đĩnh Chi đầy kỉ niệm buồn vui thì không bao giờ thiếu hình ảnh của thầy.

Hỡi ôi, nay thầy đã thành người thiên cổ.

Thêm một nỗi buồn trong đời!



[1] Xin cám ơn bạn Quỳnh Trang, đã thông báo kịp thời, cho tôi còn cơ hội chào vĩnh biệt thầy.
[2] Lớp tôi chỉ có mặt vợ chồng Công – Phượng và Đoàn Trung Hoa.